Bệnh sỏi mật - những vấn đề cần biết

3.5 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 Rating 3.50 (7 Votes)

Sỏi mật là bệnh đường tiêu hóa gặp ở 10% dân số Việt Nam, sỏi kích thước nhỏ tuy chưa gây triệu chứng gì, có thể gây đầy trướng, chậm tiêu, nặng là biến chứng viêm túi mật, viêm đường mật, viêm gan,…

Bệnh sỏi mật là gì?

Dịch mật được gan sản xuất, rồi theo đường dẫn mật trong gan đổ xuống túi mật để dự trữ. Tại đây, dịch mật sẽ được tống xuất từng đợt qua ống dẫn mật chủ vào ruột non để hỗ trợ tiêu hóa chất béo.

Sỏi mật là sự hiện diện của những khối rắn hoặc dạng bùn trong túi mật, đường dẫn mật, do các thành phần trong dịch mật (chủ yếu là cholesterol, bilirubin, canxi…) kết tụ lại với nhau tạo thành.

Có những loại sỏi mật nào?

Sỏi mật được phân loại và gọi tên theo vị trí hoặc thành phần cấu tạo sỏi:

-    Theo vị trí có sỏi gan (sỏi ở đường ống dẫn mật trong gan), sỏi ống mật chủ, sỏi túi mật và ống túi mật.

-    Theo cấu tạo: Sỏi cholesterol (trên 70% thành phần là cholesterol); Sỏi sắc tố (thành phần chính là bilirubin, canxi, cholesterol < 30%) và sỏi hỗn hợp.

Trước kia, nước ta chủ yếu gặp sỏi đường mật, sỏi túi mật chỉ chiếm 5-10%, ngày nay, sỏi túi mật tăng cao chiếm tới 50% trường hợp sỏi mật.

 Noi-soi-mat-tuy-nguoc-dong-lay-soi-ong-mat-chu

Sỏi túi mật là loại sỏi thường gặp ở nước ta

Nguyên nhân gây bệnh sỏi mật là gì?

Nguyên nhân gây bệnh sỏi mật không chỉ có một, mà là sự hội tụ của nhiều yếu tố, bao gồm: bất thường trong quá trình sản xuất dịch mật; ứ trệ dịch mật kéo dài, viêm đường mật và nhiễm khuẩn dịch mật. Ngoài ra, yếu tố cơ địa cũng là một trong những nguyên nhân chính gây sỏi mà các phương pháp Tây y hiện đại khó có thể tác động.

Triệu chứng bệnh sỏi mật

80% các trường hợp sỏi mật không có triệu chứng, đặc biệt là sỏi túi mật. Một số người bệnh có thể thấy xuất hiện các dấu hiệu mơ hồ như đau, sốt, đắng miêng, khô họng, buồn nôn hoặc đầy trướng, chậm tiêu sau mỗi bữa ăn.

20% còn lại có triệu chứng khi đã bị biến chứng, với các dấu hiệu đau, sốt đột ngột. Đau do sỏi mật khởi phát thường xảy ra sau bữa ăn nhiều dầu mỡ, hoặc vào ban đêm khiến người bệnh mất ngủ. Vị trí đau ban đầu có thể hạ sườn phải, sau đó lan ra bả vai phải và ra sau lưng.  Cơn đau có thể âm ỉ nhưng cũng có thể rất dữ dội, kéo dài từ một đến vài giờ, kèm theo sốt cao, nôn mửa, khoảng 24 - 48 giờ thì xuất hiện vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng sẫm, phân bạc màu.

Bệnh sỏi mật có nguy hiểm không?

Sỏi có thể gây tắc nghẽn dịch mật thành từng đợt, nếu kéo dài sẽ dẫn đến viêm đường mật, túi mật (90% bệnh nhân bị sỏi đường mật nhập viện là do viêm đường mật, túi mật) cấp hoặc mạn tính, viêm tụy cấp, nặng hơn nữa là sốc do nhiễm trùng đường mật, hoại tử túi mật, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết… Nếu không xử lý cấp cứu nhanh chóng, kịp thời, người bệnh có thể tử vong.

Sỏi gan có thể gây ứ mật trong gan, gây áp xe gan, xơ gan và cuối cùng dẫn đến suy gan làm giảm khả năng chuyển hóa trong cơ thể.

Các phương pháp điều trị bệnh sỏi mật

Mục tiêu điều trị sỏi mật là nhanh chóng khơi thông dòng chảy của dịch mật bằng cách sử dụng thuốc, can thiệp hoặc phẫu thuật để giúp dịch mật được lưu thông dễ dàng hơn, phòng ngừa triệu chứng và biến chứng do sỏi gây ra.

Với sỏi túi mật:

-    Thuốc tan sỏi: áp dụng với sỏi có kích thước nhỏ hơn 1.5cm, chưa bị canxi hóa, thời gian có tác dụng kéo dài từ 6 – 24 tháng, nhưng thường bị gián đoạn do tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa.

-    Tán sỏi bằng sóng siêu âm: sử dụng năng lượng của sóng siêu âm để phá vỡ sỏi thành nhiều  mảnh nhỏ, tuy nhiên ít được áp dụng do tỷ lệ thành công rất thấp.

-    Cắt túi mật: trước kia người bệnh phải mổ mở để cắt túi mật, nhưng đây là một phẫu thuật lớn, chậm phục hồi, tỷ lệ biến chứng cao, nên hiện chỉ áp dụng trong các trường hợp túi mật viêm nặng có thể làm rò rỉ dịch mật. Ngày nay phẫu thuật nội soi phổ biến và chiếm ưu thế, vì nó đơn giản, nhanh chóng và ít biến chứng hơn.

Với sỏi trong gan và ống mật chủ:

-    Lấy sỏi qua nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) cắt cơ vòng oddi: áp dụng với sỏi nhỏ dưới 1.5cm, đường dẫn mật không bị chít hẹp, có thể thành công hoặc tạm ổn định tới 80% các trường hợp.

-    Phẫu thuật mở lấy sỏi: khi đường dẫn mật bị chít hẹp, sỏi phức tạp trong đường dẫn mật… cần mổ mở để lấy sỏi.

Soi-tui-mat-la-loai-soi-thuong-gap-o-nuoc-ta

Nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi ống mật chủ

Sử dụng thuốc làm tan sỏi hay phẫu thuật đều có những ưu điểm nhất định. Nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế, không tác động vào căn nguyên gây bệnh, nên tỷ lệ tái phát sỏi vẫn cao. Mặt khác, có nhiều trường hợp không can thiệp vì sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc, rải rác trong nhu mô gan, hoặc người bệnh không đáp ứng được vì lý do kinh tế, sức khỏe.
Do vậy, về lâu dài, vẫn cần có những giải pháp tác động toàn diện trên hệ thống gan mật, mới có thể giải quyết triệt để hơn các vấn đề của sỏi mật.

Thảo dược trong hỗ trợ điều trị và dự phòng sỏi mật tái phát

Cho dù y học hiện đại luôn có những bước tiến lớn trong việc điều trị sỏi mật, nhưng chúng ta không thể phủ nhận được những lợi ích của các thảo dược truyền thống như Sài hồ, Hoàng bá, Diệp hạ châu, Chi tử, Uất kim, Chỉ xác, Nhân trần, Kim tiền thảo, đã được sử dụng hàng ngàn năm nay để trị các bệnh gan mật, đặc biệt là sỏi mật.

Quan điểm của Đông y cho rằng hoạt động của gan mật là một khối thống nhất, theo tác động hai chiều, tương hỗ nhau. Vì thế, việc điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của cả  hệ thống bao gồm: tăng chức năng gan để cải thiện chất lượng dịch mật, tăng vận động đường mật, kháng khuẩn và kháng viêm. Đó là cơ sở để bài thuốc hỗ trợ điều trị sỏi mật gồm 8 vị dược liệu ra đời,  và phát huy hiệu quả .

Yếu tố vệ sinh cũng liên qua ít nhiều đến bệnh sỏi mật. Chính vì vậy, người bệnh cần ăn uống thức ăn đã nấu chín, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần, rửa tay không nên ăn thức ăn đường phố, trẻ em hạn chế ăn quà vặt. Đối với người có tiền sử giun chui ống mật cần tẩy giun định kỳ 2-3 lần trong một năm.

Biên tập viên sức khỏe Đông Tây

Theo nguồn: http://www.healthline.com



Gửi bình luận

(Bấm vào đây để nhận mã)